Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Nghìn lẻ một đêm – Wikipedia tiếng Việt



Nghìn lẻ một đêm (tiếng Ả Rập: كتاب ألف ليلة وليلة Kitāb 'Alf Layla wa-Layla; tiếng Ba Tư: هزار و یک شب Hazâr-o Yak Šab) là bộ sưu tập các truyện dân gian Trung Đông và Nam Á được biên soạn bằng tiếng Ả Rập trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Tác phẩm này được sưu tập qua nhiều thế kỷ bởi nhiều tác giả, dịch giả và học giả khắp Tây Á, Trung Á, Nam Á và Bắc Phi. Bản thân các câu truyện được truy tìm nguồn gốc ngược về nền văn chương và truyện kể dân gian Ả Rập, Ba Tư, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Do Thái[1] và Ai Cập. Đặc biệt, nhiều truyện ban đầu là truyện dân gian từ thời đại Khalifah, trong khi đó một số truyện khác, đặc biệt là truyện nền, phần lớn có thể đã được lấy từ tác phẩm văn chương Ba Tư là Hazār Afsān (tiếng Ba Tư: هزار افسان‎, Nghĩa là. Một ngàn truyện) mà đến lượt chúng lại dựa một phần vào những yếu tố Ấn Độ.[2]

Điểm chung của các lần xuất bản bộ truyện là truyện nền ban đầu kể về vị vua Shahryār và vợ của ông là Scheherazade. Truyện nền đã giúp kết hợp chặt chẻ xuyên suốt cho chính các truyện kể khác. Các truyện kể tiến triển từ truyện kể ban đầu này; một số truyện kể được lồng vào bên trong các truyện kể khác trong khi đó có một số truyện kể tự mình bắt đầu và kết thúc. Một số lần xuất bản chỉ có chứa vài trăm đêm trong khi đó có một số lần xuất bản có chứa đến một nghìn lẽ một đêm hay nhiều hơn. Phần lớn các truyện kể được viết theo thể văn xuôi tuy đôi khi cũng được viết theo thể thơ dành cho các bài hát, câu đố và để diễn tả cảm xúc cao độ.

Một số truyện kể được xem là rất có liên quan đến Nghìn lẻ một đêm, đặc biệt là "Aladdin và cây đèn thần", "Ali Baba và bốn mươi tên cướp", và "Thủy thủ Sinbad" lại không phải là một phần của Nghìn lẻ một đêm trong phiên bản nguyên thủy bằng tiếng Ả Rập. Chúng được Antoine Galland và các phiên dịch châu Âu đưa vào bộ truyện.[3]





Bản viết tay tiếng Ả Rập của Nghìn lẻ một đêm ghi lại năm 1300

Vào thế kỷ 8, Baghdad trở thành một trong những thành phố quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nhà buôn từ Ba Tư (Iran), Ấn Độ, châu Phi và châu Âu đều có mặt ở đây. Vào thời gian đó, các câu truyện dân gian (được truyền khẩu trong nhiều năm) được thu thập và biên soạn lại thành một cuốn sách.

Những câu chuyện trong này thường là những câu chuyện dân gian truyền khẩu. Ở đâu cũng vậy, các chuyện kể dân gian không bao giờ là công trình sáng tạo của một người và có dạng hoàn chỉnh ngay từ đầu hay trong một thời gian ngắn. Cho đến một lúc nào đấy nó được những tài năng kiệt xuất chỉnh lý, định hình lần cuối cùng, rồi được nhân dân chấp nhận coi như dạng bản cuối cùng.
Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó kể khắp nơi. Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ 12 và 13 đã làm cho các chuyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ.

Nội dung chủ yếu của những câu truyện này bắt nguồn từ một cuốn sách Ba Tư cổ tên là Hazâr Afsâna ("Một nghìn truyện thần thoại", tiếng Ba Tư: هزارافسانه).Theo R. Niconxơn trong Lịch sử văn học A Rập, năm 956 một học giả A Rập tên là Maxađi (Masadi) đã nhắc tới tác phẩm này.

Năm 988, Môhamét Isac (Mohamed Ishaq), tác giả một tập thư mục những tác phẩm văn học A Rập và nước ngoài đã nói đến việc người A Rập soạn lại tập truyện cổ Ba Tư đó. Ông viết: "Tác giả tập Truyện các tể tướng là An Jasihiyari (Agdul Al Jahshitari) bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đều riêng biệt không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm nghề kể chuyện lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc kết những câu chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành một nghìn truyện như dự định".[4]

Theo các nhà nghiên cứu Nghìn lẻ một đêm ít ra là bản lưu truyền đến với chúng ta ngày nay được định hình rõ ràng vào khoảng cuối thế kỷ 15 ở Ai Cập. Thời kỳ này cả nước Ai Cập đã hoàn toàn theo đạo Hồi. Thật ra, sự xuất hiện của nó còn ngược lên đến thời xa xưa, bắt nguồn từ những truyện Ba Tư rất cổ và đã trải qua một thời kỳ tồn tại lâu dài trước khi được viết ra thành văn..

Nghìn lẻ một đêm[5] như ta đã biết hiện nay, lần đầu tiên được giới thiệu với châu Âu rồi từ đó phổ cập hầu như rộng khắp trên toàn thế giới là nhờ công lao của một học giả người Pháp: Angtoan Galăng (Antoine Galland) mà bản dịch từ khi ra đời cách đây gần ba thế kỷ đã mau chóng trở thành kinh điển.

Khi ở Pari, một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và cho xuất bản. Sách sắp in ra thì dịch giả được biết những truyện này thực ra rút ra từ "một pho đồ sộ gồm nhiều tập đề là Nghìn lẻ một đêm"[6]. Ông liền nhờ người tìm kiếm hộ, từ Syria người ta chỉ gửi đến cho ông có bốn tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên cho xuất bản năm 1704. Món quà nhỏ mọn như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân O, lập tức được hoan nghênh nhiệt liệt. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu nhân O cả triều đình nghị viện, từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào tranh nhau tập sách.

Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709, A.Galland được một người bạn A Rập đến Pari trao thêm cho một số truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp.

Chừng hai thế kỷ sau A.Galland một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn lẻ một đêm ra đời. Dịch giả là tiến sĩ J.C.Mardrus. Thật ra đây là một bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác. Mardrus không bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà dâm tục và tất cả những thơ rải rác trong các truyện.

Người đã bàn cãi khá nhiều về hai bản dịch đó. Các nhà nghiên cứu văn học đều nhất trí đánh giá cao bản dịch của A.Galland theo đúng như lời nhận xét của tạp chí Bách khoa (Pháp) số tháng riêng năm 1900: "Bản dịch của A.Galland cho chúng ta một ý niệm rất trung thành về tính cách và lời văn của người A Rập cũng như của bộ Nghìn lẻ một đêm". Chính vì vậy mà giờ đây bản dịch truyện của Galland được phổ biến và được người đọc đón nhận nồng nhiệt nhất.



Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.


Kho tàng truyện cổ vô cùng đa dạng của Nghìn lẻ một đêm được kết nối xoay quanh một trục đơn giản: Xưa kia ở miền Đông A-rập, thời Sassanid có một vị vua Ba Tư Shahriyar. Vị vua ngự trị trên một hòn đảo không rõ tên "ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc" (trong các bản dịch tiếng Ả Rập hiện nay thì ông ta là vua của Ấn Độ và Trung Quốc). Vì hoàng hậu ngoại tình nên đâm ra chán ghét tất cả đàn bà, tính nết trở nên hung bạo. Để thỏa cơn thịnh nộ điên loạn, cứ mỗi ngày ông ta cưới một cô gái và sau một đêm mặn nồng lại sai lính đem giết (trong một số bản: ba đêm một lần). Thấy đất nước lâm nguy, Sheherazade xin cha cho mình được một đêm hưởng ân sủng của hoàng thượng. Viên tể tướng rất đau lòng khi thấy con mình như vậy vì ông biết sau đêm đó nàng sẽ chết. Nhưng trước sự quyết tâm của con ông đành phải đem con dâng cho vua Shahriyar. Là cô gái thông minh, tài trí lại giàu nghị lực, nên sau nàng đã tìm được cách để thoát khỏi cái chết. Nàng cùng với sự giúp đỡ của em gái nàng là Dinarzade, nàng nhờ em đánh thức mình dậy khi trời sắp sáng và yêu cầu nàng kể chuyện. Những câu chuyện được sắp xếp khéo léo để đúng khi mặt trời mọc là lúc hấp dẫn nhất, nàng kín đáo dừng lại khi chuyện chưa chấm dứt khiến vua còn nóng lòng muốn nghe đoạn tiếp, không thể ra lệnh xử tử nàng.

Trong suốt một nghìn lẻ một đêm, nàng Sheherazade đã liên tục kể những chuyện về tình yêu, chiến tranh và pháp thuật, về những vị vua cũng như bọn ăn mày, về những xứ sở mà kim cương nhiều hơn đá sỏi, về những cô gái đẹp, về cả những mưu toan diễn ra trong các ngõ hẻm hay các khu chợ tại các thành phố phương Đông. Hai nàng cũng kể về những thị trấn, sa mạc, hải đảo xa xôi, nơi các vị phù thủy sử dụng pháp thuật, về các loài ngựa biết bay, chó biết nói, người hóa cá, cá lớn hơn cá voi, chim khổng lồ. Nàng kể về những cặp tình nhân trong các túp lều tồi tàn, họ có thể là người gan dạ hoặc hèn nhát, nhưng tất cả đều đa tình và biết hy sinh vì người yêu. Bối cảnh của các chuyện của nàng ở phương Đông, phần lớn xoay quanh các thành phố huyền thoại Bagdad, Cairo và Damascus. Hàng ngàn đêm trôi qua, cuối cùng nhà vua bị cảm hóa, tình yêu cuộc sống và con người trỗi dậy khiến ông ta đã quên khuấy việc giết người. Cảm phục nàng Sheherazade, vua đã bãi bỏ lệnh bắt con gái để giết một cách tàn nhẫn và đồng ý cưới nàng làm vợ bằng một đám cưới linh đình, sau đó cùng nhau sống hạnh phúc đến bạc đầu và họ có với nhau ba người con trai.



Cũng như truyện dân gian của các nước khác, những câu chuyện trong Nghìn lẻ một đêm phản ánh nguyện vọng và ước mơ của quần chúng nhân dân trong xã hội bị áp bức, đè nén. Họ luôn luôn mong muốn được sống trong cảnh thái bình yên vui, được gặp nhiều may mắn, hạnh phúc ấm no. Khát vọng này thể hiện qua những truyện nổi tiếng nhất của tập truyện, chẳng hạn truyện Aladdin và cây đèn thần kể về chàng trai Aladdin, con của một người thợ may. Bị một phù thủy dẫn dụ xuống hang ngầm, tại đây chàng tìm thấy một cây đèn, trong đó có nhốt vị thần đèn có thể biến mọi ước mơ thành hiện thực, nhờ đó chàng trở nên giàu có và được cưới công chúa Badroulboudour. Nhiều truyện phản ánh bản chất tốt đẹp của nhân dân lao động cần cù, chăm chỉ, kiên cường dũng cảm và thông minh tài trí, giàu lòng thương người đồng thời vạch trần bản chất tàn ác của bọn vua chúa, quan lại, phú thương, phù thủy,... thể hiện chân lý thiện thắng ác, chính thắng tà, ở hiền gặp lành, và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Cuộc hành trình trên mặt biển của thủy thủ Sinbad là một ví dụ, với những cuộc phiêu lưu kỳ thú của chàng Sinbad lên một hòn đảo nhưng thực chất là một con cá khổng lồ, lạc đến một thung lũng đầy đá quý và chàng đã mưu trí trốn ra được, đâm mù mắt gã khổng lồ ăn thịt người và giết chết chúa tể của biển cả. Truyện Ali Baba và 40 tên cướp ca ngợi tài trí thông minh và dũng cảm của cô gái Morgiana đã cứu sống gia đình bác tiều phu Ali Baba khỏi những tên cướp. Câu chuyện Người câu cá với vị thần kể về một ngư phủ vớt chiếc lọ có nhốt một vị thần, nhờ tài trí mà gã ta đã khiến vị thần khuất phục và trung thành phục vụ cho mình. Với sự giúp đỡ của vị thần, gã đã cứu hoàng tử khỏi pháp thuật và được tưởng thưởng xứng đáng.

Với hàng trăm câu chuyện hoàn chỉnh, bao gồm truyện lịch sử, truyện tình, bi kịch, hài kịch, thơ, truyện hài và truyền thuyết Hồi giáo cấu thành tác phẩm, Nghìn lẻ một đêm có một giá trị hết sức to lớn trong việc phản ánh một thế giới muôn mặt trong đời sống hiện thực xã hội Arap thời Trung cổ, thông qua một óc tưởng tượng cực kỳ phong phú, chủ đề vô cùng khác lạ, nhân vật đủ mọi loại vẻ, với những khung cảnh vừa rộng lớn vừa luôn luôn thay đổi. Về nghệ thuật, Nghìn lẻ một đêm hết sức hoàn chỉnh về kết cấu, bất ngờ trong việc dẫn dắt mạch truyện, phức tạp mà rất chặt chẽ trong các tình tiết và cũng rất điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ, mặc dù có một số truyện qua tay nhiều người, được nhiều thế hệ ghi chép nên đã ít nhiều bị pha tạp hoặc bị hiện đại hóa.



Đề tựa bản dịch tiếng Nga xuất bản năm 1929 Lêningrát, Macxim Gorki viết:




Nghìn lẻ một đêm không chỉ là một tập truyện cổ tích, đó là cả một thế giới. Thế giới người A Rập trong cuộc đời thực tại cũng như trong cảnh thần tiên ma quái, thế giới của đạo Hồi từ khi có sử thành văn và đạo Hồi qua các truyền thuyết dân gian. Người A Rập vẫn cho pho sách này là một tấm gương vĩ đại ai nấy có thể nhìn vào đấy mà suy ngẫm, mà soi xét bản thân mình.

Lời nói đầu trong nguyên bản viết:




Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm rất phong phú và đa dạng. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên, lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần lửa...Về không gian, các chuyện xảy ra những nơi ngày nay được ghi trên bản đồ là Ấn Độ, Sri Lanka, Liên Xô, Trung Quốc, Jordan và Iran và trước hết là Tây Á, Bắc Phi, Ai Cập, Iraq, Syria...Tóm lại, khung cảnh rất rộng lớn, chủ đề thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư. Quả khó có cách nào diễn tả cho gãy gọn nếu ta không trở lại mượn hình tượng Gorki đã dùng:"những sợi tơ muôn màu lan khắp bốn phương, một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng phủ trên mặt đất."



Những câu truyện nổi tiếng nhất của Sheherazade là Aladdin và cây đèn thần, thủy thủ Sinbad, Ali Baba và bốn mươi tên cướp, tuy vậy, thực tế thì Aladdin và cây đèn thần cùng với Ali Baba và bốn mươi tên cướp chỉ được đưa vào lúc thế kỷ 18 bởi Antoine Galland, một nhà đông phương học người Pháp, người cho rằng mình đã từng nghe kể về chúng ở Aleppo, Syria. Nhiều câu truyện kể về jinn, phù thủy và những nơi huyền thoại, thường được đặt lẫn với người và vùng địa lý thật.

Một đặc điểm nổi bật và xuyên suốt của Nghìn lẻ một đêm là cách dừng câu chuyện lại giữa chừng, báo trước sẽ hạ hồi phân giải, câu chuyện này được lồng vào câu chuyện khác, cũng có khi là tác giả tập trung nhiều nhân vật có tính chất khác nhau lại với nhau, rồi tạo nên tình huống buộc mỗi người phải kể một chuyện về chính mình. Và cách này, truyện muốn kết thúc đâu cũng được, hoặc muốn kéo dài bao nhiêu cũng là hợp lý. Đặc điểm ấy xuất phát từ một sự cần thiết sống còn: nàng Sheherazade phải ngừng câu chuyện của mình vào lúc trời sáng, đoạn hay nhất, hoặc hứa hẹn một câu chuyện khác sẽ còn hấp dẫn hơn nữa; nếu không tên bạo chúa Shahriyar sẽ thi hành quyết định của hắn và người kể chuyện sẽ không thể sống tới ngày hôm sau. Đó cũng là nghệ thuật độc đáo của người kể chuyện rong nhằm thu hút sự chú ý của thính giả, sao cho những người nghe không chán, không mệt, không bỏ ra về giữa chừng, và tối hôm sau sẽ còn nghe đông hơn hôm trước.

Những lúc nàng Sheherazade ngừng lại và nói: "Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu truyện..." hoặc "những truyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đây..." chính là lúc người kể chuyện thưa với thính giả đang chăm chú: "Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép dừng lại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu quý vị...". Lối ngắt chuyện này có những bản ghi thành văn ghi tóm tắt: "Muốn sự thể thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ" (như trong các tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc).



Sheherazade đã kể cho nhà vua Shahryar nhiều câu chuyện nhỏ đan xen, móc xích vào nhau.

Bản dịch của Phan Quang gồm các truyện sau:


  1. Nhà buôn và thần linh.

  2. Chuyện cụ già thứ nhất và con hươu cái.

  3. Chuyện cụ già thứ hai và hai con chó đen.

  4. Chuyện người đánh cá.

  5. Chuyện vua Hy Lạp và thầy thuốc Đubăng.

  6. Chuyện người chồng và con vẹt.

  7. Chuyện quan đại thần bị trừng phạt.

  8. Chuyện nhà vua của các nước Đảo Đen.

  9. Chuyện ba khất sĩ con vua và năm thiếu phụ ở Bátđa.

  10. Chuyện khất sĩ thứ nhất - con vua.

  11. Chuyện khất sĩ thứ hai - con vua.

  12. Chuyện kẻ ghen ghét và người bị ghen ghét.

  13. Chuyện khất sĩ thứ ba - con vua.

  14. Chuyện nàng Zôbêit.

  15. Chuyện nàng Amin.

  16. Chuyện nhà đi biển Xinbát.

  17. Chuyến đi biển đầu tiên của Xinbát.

  18. Chuyến đi biển thứ hai của Xinbát.

  19. Chuyến đi biển thứ ba của Xinbát.

  20. Chuyến đi biển thứ tư của Xinbát.

  21. Chuyến đi biển thứ năm của Xinbát.

  22. Chuyến đi biển thứ sáu của Xinbát.

  23. Chuyến đi biển thứ bảy và cũng là chuyến đi biển cuối cùng của Xinbát.

  24. Chuyện ba quả táo.

  25. Chuyện người đàn bà bị thảm sát và ông chồng trẻ.

  26. Chuyện Nuarếtđin Ali và cậu con trai Bếtđơrếtđin Hatxan.

  27. Chuyện chú gù.

  28. Chuyện người buôn thiên chúa giáo kể.

  29. Chuyện người tiếp phẩm của vua xứ Caxga kể.

  30. Chuyện viên thầy lang Do Thái kể.

  31. Chuyện gã thợ may kể.

  32. Chuyện người thợ cạo.

  33. Chuyện người anh cả của lão thợ cạo.

  34. Chuyện người anh hai của lão thợ cạo.

  35. Chuyện người anh ba của lão thợ cạo.

  36. Chuyện người anh tư của lão thợ cạo.

  37. Chuyện người anh năm của lão thợ cạo.

  38. Chuyện người anh sáu của lão thợ cạo.

  39. Chuyện Abu Hatxan Ali Ep Beca và ái phi của Khalip.

  40. Thiên tình sử của Camaranzaman - hoàng tử đảo Những đứa con của Khalêđan, với Bađua - công chúa Trung Quốc.

  41. Nuarếtđin và người đẹp Ba Tư.

  42. Chuyện Bêđe - hoàng tử Ba Tư và Giauha - công chúa con vua thủy tề.

  43. Chuyện chàng Ganem - con trai Abu Aibu, kẻ nô lệ của tình yêu.

  44. Chuyện hoàng tử Zein Alsamn và chúa tể các thần linh.

  45. Chuyện Côđađát và bốn mươi chín hoàng tử.

  46. Chuyện nàng công chú Đêriaba.

  47. Chuyện người ngủ mê thức dậy.

  48. Chuyện Alađanh và cây đèn thần.

  49. Chuyện những chuyến vi hành của Harun An Rasít.

  50. Chuyện lão mù Baba Apđanla.

  51. Chuyện Xiđi Numan.

  52. Chuyện thương gia Hatxan - thợ bện thừng.

  53. Chuyện Alibaba và bốn mươi tên cướp.

  54. Chuyện Ali Côjia - nhà buôn thành Bátđa.

  55. Chuyện con ngựa thần kỳ.

  56. Chuyện hoàng tử Atmet và nàng tiên Pari-banu.

  57. Chuyện hai người chị ganh tị với cô em út.

Ảnh hưởng lên văn hóa thế giới[sửa | sửa mã nguồn]


Nghìn lẻ một đêm có tầm ảnh hưởng to lớn lên nền văn học thế giới. Bao nhà văn đã ám chỉ đến Nghìn lẻ một đêm trong tác phẩm của họ hoặc chịu ảnh hưởng từ tác phẩm này. Trong số đó có Henry Fielding, Naguib Mahfouz, John Barth, Jorge Luis Borges, Salman Rushdie, Johann Wolfgang von Goethe, Walter Scott, William Makepeace Thackeray, Wilkie Collins, Elizabeth Gaskell, Charles Nodier, Gustave Flaubert, Marcel Schwob, Stendhal, Alexandre Dumas, Gérard de Nerval, Arthur de Gobineau, Aleksandr Sergeyevich Pushkin, Lev Nikolayevich Tolstoy, Hugo von Hofmannsthal, Arthur Conan Doyle, William Butler Yeats, H. G. Wells, Constantine P. Cavafy, Italo Calvino, Georges Perec, H. P. Lovecraft, Marcel Proust, A. S. Byatt và Angela Carter.[8]

Nhiều nhân vật trong tập truyện đã trở thành biểu tượng trong văn hóa phương Tây, chẳng hạn Aladdin, Sinbad và Ali Baba. Một số yếu tố trong thần thoại Ả Rập và thần thoại Ba Tư đã trở nên phổ biến trong những truyện kỳ ảo hiện đại, chẳng hạn thần đèn, thảm thần, đèn thần,... Một ví dụ về sự phổ biến của các yếu tố này là khi tác giả L. Frank Baum đề xuất viết một câu chuyện kỳ ảo hiện đại trong đó từ bỏ mọi yếu tố rập khuôn thì những thứ khuôn mẫu mà theo ông cần bỏ là thần đèn, chú lùn và nàng tiên.[9]

Năm 1982, Liên minh Thiên văn học Quốc tế (IAU) bắt đầu dùng tên các nhân vật và nơi chốn trong tập truyện (theo bản dịch của Burton) để đặt tên cho nhiều đối tượng địa lý trên vệ tinh Enceladus của Sao Thổ.[10] do "bề mặt vệ tinh này quá kỳ lạ và bí ẩn như những đêm Ả Rập".


Trong văn hóa Ả Rập[sửa | sửa mã nguồn]


Có ít bằng chứng cho thấy trong quá khứ Nghìn lẻ một đêm đã được thế giới Ả Rập trân quý. Nó ít được nhắc đến trong danh sách các tác phẩm văn học phổ biến và có rất ít bản thảo trước thế kỷ 18 còn sót lại.[11] Trong thế giới Ả Rập thời Trung cổ, truyện giả tưởng có địa vị văn hóa thấp hơn so với thơ. Người ta xem tập truyện này là thứ khurafa (truyện không chắc có thực chỉ dành cho phụ nữ và trẻ em giải trí). Theo Robert Irwin, "Ngay cả thời nay, trừ một số nhà văn và viện sĩ, Nghìn lẻ một đêm vẫn còn bị khinh bỉ trong thế giới Ả Rập. Những mẩu truyện này bị xem là thông tục, không chắc có thực, ấu trĩ và được viết rất tệ hại".[12] Tuy nhiên, Nghìn lẻ một đêm vẫn là nguồn cảm hứng cho một số nhà văn hiện đại người Ai Cập, chẳng hạn Tawfiq al-Hakim (tác giả của vở kịch tượng trưng nhan đề Shahrazad, 1934), Taha Hussein (tác giả của Scheherazade's Dreams, 1943)[13] và Naguib Mahfouz (tác giả của Những ngày và đêm Ả Rập, 1981).


Các ảnh hưởng ban đầu lên văn học châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]


Mặc dù bản dịch Nghìn lẻ một đêm ra ngôn ngữ nào đó ở châu Âu chỉ mới xuất hiện từ 1704 nhưng có khả năng tập truyện đã ảnh hưởng lên văn hóa phương Tây từ sớm hơn thế rất nhiều. Các nhà văn Kitô giáo ở Tây Ban Nha thời Trung cổ đã dịch thuật nhiều tác phẩm từ tiếng Ả Rập, chủ yếu có nội dung về triết học và toán học, nhưng vẫn có truyện giả tưởng Ả Rập. Bằng chứng cho điều này là tập truyện El Conde Lucanor của Juan Manuel và Cuốn sách của quái thú của Ramón Llull.[14] Chủ đề và mô típ kể chuyện song song của Nghìn lẻ một đêm có trong tác phẩm The Canterbury Tales của Chaucer và Decameron của Boccaccio. Có bằng chứng cho thấy tập truyện đã lan truyền đến vùng Balkkans; bản dịch bằng tiếng România cũng có từ trước thế kỷ 17 dựa trên bản tiếng Hy Lạp.[15]


Văn học phương Tây từ thế kỷ 18[sửa | sửa mã nguồn]


xxxxnhỏ|Tem bưu điện Hungary trên đó vẽ hình con ngựa bay trong Nghìn lẻ một đêm]]

Tập truyện Nghìn lẻ một đêm hiện đại bắt nguồn từ bản dịch của Antoine Galland (năm 1704). Thành công tức thì đến với bản dịch của Galland có lẽ là vì nó ra mắt đúng lúc diễn ra phong trào đọc contes de fées (tạm dịch: "truyện cổ tích") - khởi đầu từ Histoire d'Hypolite của Madame d'Aulnoy vào năm 1690. Cuốn sách của d'Aulnoy có kết cấu rất giống với tác phẩm Nghìn lẻ một đêm và cũng được dẫn dắt bởi một người nữ. Thành công của Nghìn lẻ một đêm lan tỏa khắp Âu châu. Cuối thế kỷ 18, nó đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Hà Lan, tiếng Đan Mạch, tiếng Nga, tiếng Flemish và tiếng Yiddish.[16] Bản truyện của Galland cũng kích thích một dòng thác truyện nhái, khi một số nhà văn Pháp bắt đầu nhái phong cách và bịa đặt một cách gượng gạo, hời hợt trên nền bối cảnh phương Đông. Một số ví dụ về truyện loại này là Les quatre Facardins (1730) của Anthony Hamilton, Le sopha (1742) của Crébillon và Les bijoux indiscrets (1748) của Diderot. Các tác phẩm này thường chứa đựng những sự ám chỉ đầy úp mở về xã hội Pháp đương thời.

Nghìn lẻ một đêm cũng là tác phẩm yêu thích của nhiều tác giả Anh thời Lãng mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt, "Trong nền thi ca Lãng mạn Anh, Nghìn lẻ một đêm là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý."[17]Wordsworth và Tennyson còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ.[18] Không khí của Nghìn lẻ một đêm được Charles Dickens mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng The Mystery of Edwin Drood (1870).[19]

Một số nhà văn còn cố gắng viết "Nghìn lẻ hai đêm", chẳng hạn Théophile Gautier (La mille deuxième nuit, 1842)[13], Joseph Roth (Die Geschichte von der 1002. Nacht, 1939).[20] và Edgar Allan Poe. Poe có tác phẩm "The Thousand and Second Tale of Scheherazade" (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad. Truyện này kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade.

Một số tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng của Nghìn lẻ một đêm là James Joyce, Marcel Proust, Jorge Luis Borges và John Barth.


Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]


Những câu chuyện từ Nghìn lẻ một đêm từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ Le Palais des Mille et une nuits (1905) của Georges Méliès. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình Aladdin (1992) của Công ty Walt Disney. Robert Irwin cho rằng The Thief of Bagdad (bản 1924), The Thief of Bagdad (bản 1940) và Arabian Nights (1974) nằm trong số "những tuyệt tác của điện ảnh thế giới".[21] Michael James Lundell gọi phim Il fiore là bản chuyển thể trung thành nhất với nguyên tác của Nghìn lẻ một đêm (nhấn mạnh mặt gợi dục trong truyện).[22]


Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]


Nghìn lẻ một đêm đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của:


  • François-Adrien Boieldieu: Le calife de Bagdad (1800)

  • Carl Maria von Weber: Abu Hassan (1811)

  • Luigi Cherubini: Ali Baba (1833)

  • Peter Cornelius: Der Barbier von Bagdad (1858)

  • Ernest Reyer: La statue (1861)

  • C. F. E. Horneman (1840–1906), Aladdin (overture), 1864

  • Nikolai Rimsky-Korsakov: Scheherazade Op. 35 (1888) [23]

  • Dikran Tchouhadjian (1837-1898), Zemire (1891)

  • Henri Rabaud: Mârouf, savetier du Caire (1914)

  • Carl Nielsen, Aladdin Suite (1918–1919)

  • Renaissance: Scheherazade and Other Stories (1975)

  • Fikret Amirov: Arabian Nights (Ballet, 1979)

  • Ezequiel Viñao, La Noche de las Noches (1990)

  • Carl Davis, Aladdin

  • Kamelot, Nights of Arabia (1999)

  • Sarah Brightman, Harem and Arabian Nights (2003)

  • Ch!pz, "1001 Arabian Nights" (2004)

  • Nightwish, Sahara (2007)

  • Abney Park (band), Scheherazade (2013)


  1. ^ Ulrich Marzolph (2007). The Arabian Nights in Transnational Perspective. Wayne State University Press. tr. 183–. ISBN 0-8143-3287-0. 

  2. ^
    Marzolphpa (2007), “Arabian Nights”, Encyclopaedia of Islam I, Leiden: Brill. 


  3. ^ John Payne, Alaeddin and the Enchanted Lamp and Other Stories, (London 1901) gives details of Galland's encounter with 'Hanna' in 1709 and of the discovery in the Bibliothèque Nationale, Paris of two Arabic manuscripts containing Aladdin and two more of the added tales. Text of "Alaeddin and the enchanted lamp"

  4. ^ Trích theo La Côn (1961), tạp chí Nghiên cứu văn học (số 1), tr. 59-60

  5. ^ Thật ra, nguyên tác hình thành hình như mới có 256 đêm (theo lời giới thiệu nghìn lẻ một đêm của nhà xuất bản Đơlagravơ, Pais.

  6. ^ theo thư của A.Galland gửi cho hầu tước phu nhân O, in ở đàu bản tiếng Pháp

  7. ^ Gorki bàn về văn học, Nhà xuất bản Văn học, 1976, tr. 324

  8. ^ Irwin, Robert (2003). The Arabian Nights: A Companion. I.B. Tauris. tr. 290. ISBN 1-86064-983-1. 

  9. ^ Thurber (1984), tr. 64

  10. ^ Blue, J.; (2006) Categories for Naming Planetary Features

  11. ^ Reynolds (2006), tr. 272

  12. ^ Irwin (2005), tr. 81-82

  13. ^ a ă “Alf layla wa layla”. Encyclopaedia Iranic. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2013. 

  14. ^ Irwin (2005), tr. 92-94

  15. ^ Irwin (2005), tr. 61-62

  16. ^ Reynolds (2006), tr. 279-81

  17. ^ Byatt (2001), tr. 167

  18. ^ Irwin (2005), tr. 266-69

  19. ^ Irwin (2005), tr. 270

  20. ^ Byatt (2001), tr. 168

  21. ^ Irwin (2005), tr. 291-292

  22. ^ Lundell, Michael (2013), “Pasolini’s Splendid Infidelities: Un/Faithful Film Versions of The Thousand and One Nights”, Adaptation (Oxford University Press) 6 (1): 120–127, doi:10.1093/adaptation/aps022 

  23. ^ Encyclopaedia Iranica Alf layla wa layla, Encyclopaedia Iranica


Sách[sửa | sửa mã nguồn]


  • Byatt, Antonia Susan (2001). On Histories and Stories: Selected Essays. Harvard University Press. ISBN 9780674004511. 

  • Irwin, Robert (2005). The Arabian Nights: A Companion. Tauris Parke. ISBN 9781860649837. 

  • Reynolds, Dwight (2006). “A Thousand and One Nights: a history of the text and its reception”. The Cambridge History of Arabic Literature, Vol. 6: Arabic Literature in the Post-Classical Period. Cambridge University Press. ISBN 9780521771603. 

  • Thurber, James (1984). “The Wizard of Chitenango”. Trong Robert H. Boyer; Kenneth J. Zahorski. Fantasists on Fantasy: A collection of Critical Reflections by Eighteen Masters of the Art. New York: Avon Books. ISBN 0-380-86553-X. 

  • David Pinault Story-Telling Techniques in the Arabian Nights (Brill Publishers, 1992)

  • Ulrich Marzolph, Richard van Leeuwen, Hassan Wassouf,The Arabian Nights Encyclopedia (2004)

  • Ulrich Marzolph (ed.) The Arabian Nights Reader (Wayne State University Press, 2006)

  • Eva Sallis Scheherazade Through the Looking-Glass: The Metamorphosis of the Thousand and One Nights (Routledge, 1999),

  • Yamanaka, Yuriko and Nishio, Tetsuo (ed.) The Arabian Nights and Orientalism – Perspectives from East and West (I.B.Tauris, 2006) ISBN 1-85043-768-8

  • Ch. Pellat, "Alf Layla Wa Layla" in Encyclopaedia Iranica. Online Access June 2011 at [1]

  • In Arabian Nights: A search of Morocco through its stories and storytellers by Tahir Shah, Doubleday, 2008.

  • Nurse, Paul McMichael. Eastern Dreams: How the Arabian Nights Came to the World Viking Canada: 2010. General popular history of the 1001 Nights from its earliest days to the present.

  • Nghìn lẻ một đêm tại Từ điển bách khoa Việt Nam

  • The Thousand and One Nights (Asian literature) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)

Phan Kim Liên – Wikipedia tiếng Việt


Phan Kim Liên (giản thể: 潘金莲; phồn thể: 潘金蓮) là nhân vật trong tiểu thuyết (nhưng vô tình lại trùng với nhân vật có thật) Thủy Hử của nhà văn Thi Nại Am, là người đàn bà đa tình và hiểm độc, giết chồng để ngoại tình và cũng là nhân vật trong truyện Kim Bình Mai của Vương Thế Trinh, đại diện cho phụ nữ phong kiến, không thể làm theo ý mình, muốn được giải thoát. Nàng là cô gái dung nhan mỹ lệ, phong lưu đa tình, có sức hấp dẫn đầy uy lực. Trái với vẻ ngoài xinh đẹp, cá tính nàng tranh cường hiếu thắng, ích kỷ nhỏ nhen, trở thành nhân cách xấu xa tráo trở.





Phan Kim Liên nguyên là hầu gái trong nhà một đại gia, nhìn hiền lành, dịu dàng và vô cùng xinh đẹp, do không chịu làm thiếp cho tài chủ già nên bị bức phải lấy Võ Đại Lang, anh Võ Tòng, một người bán bánh bao vừa lùn vừa xấu xí[1]. Phan Kim Liên vốn tính lẳng lơ nên rất thất vọng. Về sau, Võ Tòng gặp lại Võ Đại Lang, Phan Kim Liên thấy Võ Tòng là anh hùng cái thế thì ra sức quyến rũ nhưng Võ Tòng không chút động lòng. Nhân lúc Võ Tòng đi Đông Kinh, do người láng giềng là Vương Bà dắt mối, Phan Kim Liên quen với Tây Môn Khánh, một tên tài chủ, đã không kìm nổi ham muốn. Khi hai người gặp nhau ở nhà Vương Bà thì bị Võ Đại Lang phát hiện. Võ Đại Lang bị Tây Môn Khánh đánh đến ngất đi. Vì muốn gian díu lâu dài với Tây Môn Khánh nên Phan Kim Liên đã nhẫn tâm và quỷ quyệt với sự giúp đỡ của Vương Bà bỏ thạch tín vào bát canh của Võ Đại Lang để giết chàng. Còn Phan Kim Liên đã bộc lộ bản lĩnh lại giỏi mưu chước quyền biến nên trở thành bà vợ thứ năm của Tây Môn Khánh, được yêu chiều rất mực.

Võ Tòng trở về, biết chuyện lập tức mời hàng xóm đến nhà. Chàng lôi Vương Bà đến trước bàn thờ anh rồi gọi Phan Kim Liên ra. Phan Kim Liên xin tha tội nhưng Võ Tòng đã chém chết ả ngay tại chỗ rồi đi giết Tây Môn Khánh[2]. Phan Kim Liên về sau trở thành mỹ nhân điển hình của hạng phụ nữ tà dâm, xảo quyệt trong văn học Trung Hoa.



Lối viết ám chỉ lại dùng chính xác tên người, tên đất có thật rất không nhân văn và không trung thực của nhà văn đã khiến nhân vật liên quan bị oan suốt bao năm tháng.

Phan Kim Liên là thiên kim tiểu thư, con của quan tri châu Hàm Đan, nhà ở Phan Gia Trang (sau đổi là Hoàng Kim Trang) huyện Thanh Hà, Hình Đài , chỉ cách thôn Võ Gia Na 1,5 km. Vì thương Võ Đại Lang là người nghèo mà có chí nên Phan Kim Liên hết lòng giúp đỡ, sau hai người nên nghĩa vợ chồng, sống hạnh phúc bên nhau, có bốn con trai.

Chuyện oan uổng của gia tộc Võ và Phan ở Thanh Hà, Hình Đài cũng khiến cho con cháu của Thi Nại Am trăn trở. Ngày 18 tháng 12 năm 2009, họa sĩ Thi Thắng Thần, hội viên Hội Mỹ thuật Trung Quốc, Phó hội trưởng Hội Nghiên cứu tranh liên hoàn tỉnh Hà Bắc, là hậu duệ dòng đích của Thi Nại Am đã đến đền thờ Võ Đại Lang ở Thanh Hà, Hình Đài. Ông thay mặt cho hậu duệ của họ Thi bày tỏ sự xin lỗi và mong con cháu họ Võ, họ Phan tha thứ. Cùng với việc xin lỗi nói trên, họa sĩ hậu duệ họ Thi đã xin đúc lại tượng Võ Đại Lang và Phan Kim Liên, vẽ 16 bức tranh liên hoàn và đề thơ xin lỗi treo trong từ đường.

Tại bức họa Phan Kim Liên, Thi Thắng Thần viết: "Kẻ hậu sinh từng kính họa 16 bức tranh chính truyền hai vị Võ và Phan treo nơi vách từ đường họ Võ để phá cái oan khuất bao đời cho thiên hạ rõ. Nhưng nơi chín suối hai vị Võ, Phan hẳn không tha thứ cho tội làm hoen ố thanh danh trong "Thủy Hử truyện" của tiên nhân... nay kính xin chỉnh lại dung nhan, hoàn lại dáng hình vốn có. Nguyện hai vị Võ, Phan linh thiêng chứng giám. Họ Thi đốt hương kính bái".[3]







Đô la quốc tế – Wikipedia tiếng Việt


Đô la quốc tế là một đơn vị tiền tệ giả định. Nó có sức mua ngang bằng sức mua của đô la Mỹ tại một thời điểm nhất định. Nó chính là dollar Mỹ quy đổi theo tỷ giá hối đoái sức mua tương đương (PPP). Nó cho thấy một đơn vị tiền tệ nội địa có giá trị quốc tế thế nào trong phạm vi biên giới của một quốc gia. Nó dùng để so sánh giữa các quốc gia hoặc giữa các thời điểm. Ví dụ, so sánh tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người giữa nhiều nước bằng dollar quốc tế, chứ không phải đơn giản dựa trên tỷ giá hối đoái, sẽ cho một thước đo có giá trị hơn để so sánh mức sống.

Thuật ngữ này, mặc dù không được dùng phổ biến, song đôi khi lại được dùng bởi các tổ chức quốc tế như Nhóm Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế khi công bố các thống kê.

Các con số thể hiện bằng dollar quốc tế không thể được chuyển đổi sang một đơn vị tiền tệ quốc gia khác sử dụng tỷ giá hối đoái thị trường hiện hành; thay vào đó chúng phải được chuyển đổi bằng cách dùng tỷ giá hối đoái PPP của nước đó.










Thực vật CAM – Wikipedia tiếng Việt


Dứa là một loài thực vật CAM.

Thực vật CAM hay quang hợp CAM với CAM là từ viết tắt của Crassulacean acid metabolism (trao đổi chất axít Crassulacea), là một kiểu cố định cacbon phức tạp trong một số thực vật quang hợp. CAM là cơ chế thông thường tìm thấy trong các thực vật sinh sống trong các điều kiện khô hạn, bao gồm các loài tìm thấy trong sa mạc (ví dụ, xương rồng hay dứa). Nó được đặt tên theo họ thực vật mà cơ chế này lần đầu tiên được phát hiện ra, là họ Cảnh thiên (Crassulaceae, bao gồm các loài thực vật mọng nước như cảnh thiên, thuốc bỏng v.v).



Các thực vật có cơ chế thích nghi để có thể phát triển tốt trong điều kiện khí hậu khô cằn được gọi là thực vật chịu hạn hay thực vật ưa khô. Một số thực vật chịu hạn có các lá nhỏ và dày với tỷ số diện tích bề mặt so với thể tích là nhỏ. Chúng cũng có thể có lớp cutin dày để bảo vệ chúng không bị khô héo. Các khí khổng có thể bị chìm xuống thành các hốc lõm. Một vài thực vật chịu hạn rụng lá vào mùa khô. Một số khác, như xương rồng, lan và dứa có thể lưu giữ nước trong các không bào. Một số thực vật chịu hạn thực hiện cơ chế quang hợp theo kiểu CAM.

Thực vật CAM đóng kín các khí khổng trong thời gian ban ngày nhằm giữ gìn nước bằng cách ngăn cản quá trình thoát-bốc hơi nước. Các khí khổng sẽ được mở ra vào thời gian ban đêm lạnh và ẩm hơn, cho phép chúng hấp thụ điôxít cacbon để sử dụng trong quá trình cố định cacbon.
Quá trình này được bắt đầu khi hợp chất 3-cacbon là photphoenolpyruvat được cacboxylat hóa thành oxaloaxetat và nó sau đó bị khử để tạo ra malat. Thực vật CAM lưu trữ các trung gian 4-cacbon này cùng các hợp chất hữu cơ đơn giản khác trong các không bào của chúng. Muối malat dễ dàng bị phá vỡ thành pyruvat và CO2, sau đó pyruvat được photphorylat hóa để tái sinh photphoenolpyruvat (PEP). Trong thời gian ban ngày, axít malic bị chuyển ra khỏi các không bào và bị phân tách ra để tạo thành CO2 sao cho nó có thể được enzym RuBisCO sử dụng trong chu trình Calvin-Benson trong chất nền đệm của lạp lục. Bằng cách này nó làm giảm tốc độ thoát-bốc hơi nước trong quá trình trao đổi khí, CAM cho phép các loài thực vật này có thể phát triển bình thường trong các điều kiện môi trường mà nếu khác đi thì là quá khô hạn đối với sự phát triển của chúng, hay ít nhất ra là làm cho chúng có thể chịu đựng được các điều kiện cực kỳ khô hạn.


CAM là tên gọi lấy theo họ Crassulaceae, trong đó có chứa loài Crassula argentea

Ở một vài phương diện, CAM tương tự như kiểu quang hợp C4, ngoại trừ một điều là thực vật CAM không chứa các tế bào bó màng bọc. Thực vật C4 bắt CO2 trong một kiểu mô tế bào (thịt lá) và sau đó di chuyển nó tới kiểu mô khác (các tế bào bó màng bao) sao cho quá trình cố định cacbon có thể diễn ra thông qua chu trình Calvin-Benson. Ngoài ra, trao đổi chất C4 diễn ra liên tục khi còn có ánh nắng, trong khi CAM chỉ diễn ra ban đêm. Vì thế, trao đổi chất C4 về mặt tự nhiên là tách rời cố định CO2 ra khỏi chu trình Calvin-Benson, trong khi trao đổi chất CAM tạm thời tách rời cố định CO2 ra khỏi chu trình này.

Thực vật CAM có khả năng giữ nước rất tốt, cũng như rất hiệu quả trong việc sử dụng nitơ. Tuy nhiên, chúng là không hiệu quả trong việc hấp thụ CO2, do vậy chúng là các loại cây phát triển chậm khi so sánh với các loài thực vật khác. Ngoài ra, thực vật CAM cũng tránh quang hô hấp. Enzym chịu trách nhiệm cố định cacbon trong chu trình Calvin, Rubisco, không thể phân biệt CO2 với ôxy. Kết quả là thực vật sử dụng năng lượng để phá vỡ các hợp chất cacbon. Quá trình tốn kém này diễn ra khi nồng độ ôxy bên trong lá là quá cao, cụ thể là trong các thực vật C3.










Alice ở xứ sở thần tiên (phim 1951) – Wikipedia tiếng Việt


Alice lạc vào Xứ Sở Thần Tiên (tiếng Anh: Alice in Wonderland) là bộ phim kể về cuộc phiêu lưu vào một xứ sở rất diệu kỳ của một cô bé có tên là Alice, dựa vào cuốn tiểu thuyết Cuộc phiêu lưu của Alice vào Xứ sở thần tiên (Alice's Adventure in Wonderland) của Lewis Carroll. Đây là một trong số những bộ phim hoạt hình nổi bật nhất của Disney. Bộ phim hoạt họa đã thành công rực rỡ, cứu nguy cho hãng Walt Disney Pictures và được phát lại 13 lần.





Nghe chị đọc truyện, Alice cảm thấy thật mệt mỏi. Mới nhắm mắt lại, cô bé đã thấy một chú thỏ trắng hối hả chạy ngang qua vừa nhìn vào đồng hồ bỏ túi vừa lầm bầm một mình. Alice nghĩ bụng, thật là kì lạ - một chú thỏ nói chuyện với chiếc đồng hồ bỏ túi! Thế là cô bé chạy theo sau thỏ trắng vào trong cái hang thỏ bên dưới một gốc cây to.

Và cô bé rơi xuống, dường như rơi xuống tận tâm Trái Đất vậy. Nhưng khi Alice rớt bịch xuống, Thỏ Trắng cũng vừa biến mất sau một cánh cửa nhỏ xíu nên cô không thể nào chui qua lọt được.

Alice uống nước trong cái chai trên bàn và người cô bé thu lại nhỏ xíu. Nhưng giờ thì Alice lại không sao với tới chìa khoá để mở cửa được!

Cuối cùng Alice cũng nghĩ ra cách ngồi trên một cái chai để đi qua cánh cửa. Cứ thế cô bé trôi vào vương quốc thần tiên trên vùng biển huyền bí.

Trên bờ biển của xứ sở thần tiên, Alice nhập vào một cuộc đua. Kì lạ là cuộc đua không có bắt đầu cũng không có kết thúc - mà cứ chạy vòng quanh hoài.

Alice đi khắp xứ sở thần tiên tìm kiếm Thỏ Trắng. Cô bé gặp hai anh chàng vui nhộn tên là Dum và Di. Cả hai không biết Thỏ Trắng cả, nhưng lại kể cho Alice nghe một câu chuyện tuyệt vời về một con hải mã và người thợ mộc đi dạo dọc bờ biển.

Alice lịch sự lắng nghe rồi lại vội vàng đi tiếp. Và cuối cùng, ở một ngôi nhà nhỏ xinh xắn trong rừng, cô bé cũng gặp được Thỏ Trắng. Thỏ Trắng nhờ Alice vào trong nhà của chú để tìm giúp chú đôi bao tay. Nhưng cô bé chẳng thấy bao tay đâu mà chỉ thấy một số bánh quy có dán nhãn: hãy lấy một cái. Thế là cô làm theo.

Vừa ăn xong bánh, Alice rùng rùng lớn phổng lên như ngôi nhà! Thỏ Trắng và bạn chú là Dodo nghĩ cô bé là một con quái vật khủng khiếp. Alice nhón lấy một củ cà rốt trong vườn nhà thỏ ăn, thế là cô bé thu mình nhỏ lại - nhỏ đến nỗi cô bé lạc ngay vào trong rừng cỏ.

Nhưng chỉ một lát sau Alice nhận ra mình đang ở trong một khu vườn thật sống động có những bông hoa biết nói, những con bướm có hình miếng bánh mì và cả những con ngựa bập bênh biết bay nữa. Alice thấy khu vườn thật dễ chịu. Nhưng hoa lá trong vườn lại cho rằng Alice chỉ là một cọng cỏ dại, thế là chúng không cho nàng ở lại.

Kế đến, Alice gặp một con sâu bướm huênh hoang. Nó bảo rằng nếu cô bé muốn thay đổi vóc dáng cho thật to lớn thì hãy ăn cây nấm mà nó đang ngồi đây.

Alice thử nếm một bên thân nấm và vọt cao hơn cả những ngọn cây khiến cho chim chóc hoảng sợ. Nhưng khi cô bé cắn bên kia một cái, ngay lập tức cô bé trở lại vóc dáng bình thường.

"Giờ thì mình sẽ đi đường nào đây?", Alice tự hỏi. Mấy tấm biển chỉ đường chỉ loạn xạ các hướng nên chẳng giúp cô bé được gì cả.

"Nếu muốn tìm Thỏ Trắng, hãy đi hỏi lão bán mũ điên" một con mèo lúc nào cũng nhăn nhở cười toét miệng trên một thân cây nói vọng xuống. "Ông ta sống ở dưới đó đó."

Alice tìm thấy người bán mũ điên và thỏ rừng đang dùng tiệc. Cô cũng tham dự một lúc. Sau buổi tiệc vô vị đó, Alice muốn trở về nhà nhưng chẳng có sinh vật lạ lùng nào biết đường cả.

Alice lang thang vào khu vườn của Hoàng hậu. Lính gác vườn không thể giúp cô vì đều đang bận rộn sơn phết những bông hồng màu đỏ vì họ trồng nhầm hoa hồng màu trắng mà Hoàng hậu lại không thích hoa hồng trắng nên có thể ba người lính sẽ chết. Rồi đám diễu hành của hoàng gia đi qua. Alice nhận ra Thỏ Trắng chính là người thổi kèn trumpet cho Hoàng hậu Q cơ.

Nữ hoàng hỏi Alice có muốn chơi croquet không. Nhưng Alice không thích những nét mặt của quân bài. "Tống cổ con bé đi cho ta!", Hoàng hậu thét lên.

Alice bỏ chạy, đội quân bài rượt theo sau. Cô bé chạy qua những lối đi lộn xộn trong vương quốc thần tiên rồi trở lại bờ sông.

Khi tỉnh khỏi giấc mơ về xứ sở thần tiên lạ lùng, Alice nói, "Trở lại chỗ mọi thứ là chính mình thì thích thật".




  1. "Alice in Wonderland"

  2. "In a World of My Own"

  3. "I'm Late"

  4. "The Caucus Race"

  5. "How Do You Do Shake Hands"

  6. "The Walrus and the Carpenter"

  7. "Old Father William"

  8. "Smoke the Blighter Out"

  9. "All in the Golden Afternoon"

  10. "AEIOU"

  11. "Twas Brillig"

  12. "The Unbirthday Song"

  13. "Very Good Advice"

  14. "Painting the Roses Red"



36401


36401

Thuir – Wikipedia tiếng Việt


Thuir là một xã trong vùng Occitanie, thuộc tỉnh Pyrénées-Orientales, quận Perpignan, tổng Thuir. Tọa độ địa lý của xã là 42° 37' vĩ độ bắc, 02° 45' kinh độ đông. Thuir nằm trên độ cao trung bình là 99 mét trên mực nước biển, có điểm thấp nhất là 78 mét và điểm cao nhất là 243 mét. Xã có diện tích 19,90 km², dân số vào thời điểm 1999 là 7.257 người; mật độ dân số là 364 người/km².